Khoa Ngữ Văn
  
Trang chủ Nghiên cứu khoa học VĂN HỌC VIỆT NAM VI THÙY LINH THI SĨ ÁI QUYỀN (TS. Chu Văn Sơn)
VI THÙY LINH THI SĨ ÁI QUYỀN (TS. Chu Văn Sơn) PDF. In Email
Thứ ba, 25 Tháng 9 2012 10:57

 

Vi Thùy Linh

1. Đ được đón đi

Tôi vẫn cho rằng mỗi nghệ sĩ đích thực phải là hiện thân của một giá trị sống, giá trị người nào đó. Bằng tiềm hướng nhân bản, bằng văn hóa và trải nghiệm trường đời, người ấy đã bừng ngộ về giá trị sống, giá trị người kia. Rồi cứ thế suốt đời dồn toàn bộ tâm huyết và nghệ thuật của mình để làm sáng danh cho giá trị ấy, dù không phải lúc nào cũng ý thức kĩ về nó. Đấy là gốc rễ của mọi cái mới chân chính trong nghệ thuật. Thiếu điều này, cách tân chỉ còn là những loay hoay vụn vặt về hình thức. Tuy nhiên, cái mới lại thường gây hấn, gây sốc đối với tập quán. Nó không dễ được chia sẻ ngay, tiếp nhận liền. Có khi còn bị ngờ vực, dằn hắt nữa. Nhưng, đã làm nghệ thuật thì không thể khác! Chỉ có những kẻ dám dấn thân mới chịu nổi tai ách này. Khuôn mặt nghệ thuật của nghệ sĩ, nghiệt thay, lại được định dạng bởi chính những điều ấy. Sáng tạo và đày ải, lấy khổ làm sướng, nuốt buồn nhả vui, khó chịu thì chịu khó… chính là nghệ thuật vậy.

 

Cuộc dấn thân của Vi Thùy Linh (còn gọi là ViLi), vậy là, đã mười lăm năm. Để được chấp nhận, thật lắm truân chuyên. Nhớ hồi mới trồi lên, mầm thơ Linh chưa được nâng niu đã phải đương đầu. Mưa đá của hoài nghi tới tấp trút xuống. Nếu non bấy, hẳn chồi mầm kia đã tiêu rồi. May nhờ nội lực, nó đã thách thức những bài bác cay nghiệt để gắng vượt lên. Mỗi tập mới là một vụ nổ chữ mới. Mười lăm năm, dẹp sang bên những băng rôn khua chiêng, hàng tít gõ trống, Linh vẫn là hiện tượng trẻ khuấy được dư luận nhất trong đời sống thơ Việt. Đến nay, mỗi xuất hiện mới của Linh xem chừng đều muốn làm bận rộn cả người đọc lẫn giới truyền thông. Mười lăm năm là cái giá để được đón đợi chăng?

Dù sao, đến tập thơ thứ năm Phim đôi – Tình t chm này [1], có thể xem Vi Thùy Linh đã cắm xong cái mốc cho một chặng thơ mình. Ngoái lại, người đọc đã có thể “tính sổ” cùng Linh. Có thể xem chặng thơ như một bộ phim dài năm tập. Suốt cả năm tập, phim chỉ có một nhân vật trung tâm thôi: nàng Eva Linh lụy tình, cứ trồng mình giữa vườn địa đàng của thì hiện tại mà thèm xây dựng một đế chế yêu. Với ViLi, yêu là thơ là dệt tầm gai[2]… là sống.

2. N quyn hay Ái quyn

Bây giờ mà nói Vi Thùy Linh trở thành chính mình chỉ bởi sự đam mê đề tài tình yêu, thì liệu có… nhàm quá không? Dù với Linh, đường thơ – đường tình là một, dù tỉ lệ thơ tình hoàn toàn áp đảo, dù các tập thơ Linh luôn có những cái tựa cực … tình (Khát, ViLi in love, Phim đôi – tình t chm), thì việc chuyên thơ tình đâu còn làm nên khác biệt! Đã có chán vạn thi sĩ ái tình rồi!

Bao người đã tưởng điều làm nên “thương hiệu” ViLi chẳng qua chỉ là ngang nhiên đưa vào thơ các “cảnh nóng”, gây sốc với ngay cả những người hiếu sốc, kiểu như “Kha thân trong chăn / Thèm chng. Thèm có chng bên. Ch cn anh gi lên đùi / Mình ôm ly Anh ôm mình / Biết s bình yên ca mt đt”, “Em kéo áo lên đ anh tràn tinh khôi và mãnh lit”, “Cài then em bng anh”, “Không còn biết mt chn đng nào hơn / Anh xoáy vào em / Cơn lc”… Thực ra, viết sau những đại bút như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Vũ Hoàng Chương, Nguyên Sa…, rồi những cây bút khác như Nhã Ca, Dư Thị Hoàn, Phạm Thị Ngọc Liên… có đến mấy thế hệ, thì trình ra những cảnh được/bị xem là hot thời đương đại kia đâu còn là độc diễn nữa !

Không ít người lại đinh ninh cái đáng nói nhất của ViLi là sự kiên tâm nâng tình yêu lên thành tôn giáo. Ồ, tôn giáo hóa những điều mình tôn thờ vốn là nét phổ biến của kẻ lãng mạn. Nếu nói riêng trong thơ tình ở ta, người gần nhất xem tình yêu là tôn giáo thì cũng đã khởi nghiệp cách nay dư nửa thế kỉ và đã chia lìa với thế giới này cũng có tới một thập niên rồi. Coi tình yêu là tôn giáo, xem ra, là câu chuyện cũng đã… xưa.

Vậy, đâu mới là Vi Thùy Linh?

Rất nhiều người đã cả quyết: điểm đáng kể của Linh là tiếng nói nữ quyền trong tình yêu. Tôi cũng từng tin thế. Linh là một nữ sĩ, mọi biểu tỏ tình yêu đều từ vai nữ, vậy xem Linh là phát ngôn viên cho nữ quyền thì phải quá còn gì. “Nữ quyền luận” chẳng phải đang xôm, đang mốt trở lại đó sao! Nhưng lắng kĩ, té ra, nhầm. Té ra, khoa học cũng thời thượng. Tiếng nói nữ quyền ở ta ít nhất đã có từ thời Xuân Hương rồi[3]. Với lại, Linh có lên tiếng như nạn nhân của nam quyền đâu. Trong thơ, Linh chẳng đòi quyền riêng gì cho giới nữ! Một người đòi quyền cho người nữ, thì sao lại hân hoan làm một nô lệ tự nguyện đến thế này: Hình như tôi đã ln lên cùng tình yêu dành cho Anh, t khi bt đu là bào thai con gái trong bng m / Tôi hôn Anh rưng rưng và biết mình đang tr thành nô l ca tình yêu, mt nô l không cn được gii phóng. Một người bất bình với  nam quyền, muốn tranh giành vị thế với đàn ông thì sao có thể viết những dòng tôn vinh đàn ông đến nhường này: Không cn Chúa Tri, Anh sáng to em bng sc mnh phn sinh / Em thy mình thc s là ph n khi có Anh – điu tt yếu và linh thánh… Em quỳ xung Anh gi Bình minh sáng thế

Giới quyền không phải chuyện của Linh. Cái làm bận tâm thi sĩ này, thực ra, là Ái quyền. Quyền được yêu như một Con Người viết hoa. Đối với con người, quyền được yêu bao giờ cũng là phần đáng giá nhất của quyền sống. Ý thức về ái quyền, ca tụng và đấu tranh cho ái quyền, đó là nguồn cảm hứng sôi nổi nhất của hồn thơ Linh. Nó làm nên khuôn mặt nghệ thuật Vi Thùy Linh trong thơ đương đại: “Em yêu Anh như yêu s hin din ca chúng mình trên trái đt / Mc tháng năm chy v cui mt / Mc thế gian đi thay tng gi khc / Chúng mình yêu nhau”, “Ta / lúc nào cũng phá gii đ yêu / thì có nên tu không ?/ Biết tu kiếp nào ?/ Hôn nhau tràn tràn / Ta tu sut đi dưới gc cây b đ – Anh / Chúng mình siêu thoát”,Em yêu Anh cung điên / Yêu đến tan c em…

Kẻ thù của ái quyền trong thơ Linh không phải nam quyền, cường quyền hay thần quyền. Nó là sự giả dối và ươn hèn khiến con người đánh mất những tình yêu đẹp đẽ. Nó là tập quán lạc hậu của một cộng đồng chưa thực có truyền thống tôn trọng cá nhân nên cũng chưa biết tôn trọng tình yêu đầy đủ, trái lại, vẫn còn nhiều kì thị, thóc mách trước những biểu tỏ riêng tư của đôi lứa. Mà giành quyền sống cho tình yêu trước những thế lực như vậy, còn gian nan và dai dẳng gấp bội phần so với những thế lực khác.

Ta hiểu vì sao, Linh xem sống là được yêu. Ta hiểu vì sao Linh thèm muốn những nụ hôn của tình yêu được đàng hoàng công khai dưới ánh ngày, được tự do biểu tỏ trước đám đông. Ta hiểu vì sao Linh thèm khát cái hạnh phúc được Hôn nhau gia th đô La Mã… Anh ôm em bay gia bu tri Ý… quyn nhau thành tháp nghiêng trên tháp, thèm được Ung nhau không biết mt / Cho c thế gii nhìn…

3. Gia vườn đa đàng…

Chữ ái quyền không chỉ mang hàm nghĩa quen nhất là quyền được yêu. Nó còn tiềm ẩn một nét nghĩa khác cũng hết sức đáng kể: quyền năng của tình yêu. Thơ ViLi là sự ca tụng quyền năng đó.

Đích cuối cùng của văn minh, tiến bộ có phải là xây dựng một cơ ngơi vật chất huy hoàng cho thế giới này không? Không. Mọi nỗ lực của văn minh, tiến bộ đều phải nhắm cái đích tối hậu: làm sao cho loài người biết nhìn nhận tình yêu là cái nhụy của sự sống và biết sống trong tình yêu. Nhưng thực tại lại ngày một xác xơ. Trái đất vốn là vườn địa đàng giờ đã bị xâm lấn bởi cái gọi là văn minh. Nó lan tới đâu, những nẻo vườn liền bị san lấp, chôn vùi. Con người thì sẵn sàng xắn ra từng mảnh nhỏ để bán chác, đánh đổi. Đến nay, vườn địa đàng đã bị đè nghiến dưới chân móng của nền văn minh đó rồi. Ngự trị luyến ái quan của chúng ta là một tình yêu bị chằng buộc biết bao luật lệ qui ước của thứ văn minh đó. Những hành trang rởm ấy làm mờ đục sơ tâm, khiến loài người yếu đuối, khiến thế giới khô cằn. Dù không ít lúc nói giọng to tát, nhưng trong thơ, Linh luôn bày tỏ nỗi thất vọng chân thành về một thực tại như thế. Linh nói nhiều về những nguyên nhân và hậu quả: “Trái đt m yếu vì văn minh / Thế gii thiếu cht thơ nên loài người bi kch”. Vì “c loài người ng nhn tham vng vt cht”, vì “Dc vng bi bi khiến người ta khn kh”, cho nên đến giờ “Thế gii còn rt ít người dám coi tình yêu là ti thượng”…

Cái gì có thể giải cứu một thế giới như vậy? Dĩ nhiên, chỉ có một quyền năng duy nhất: tình yêu. Một tình yêu lớn và đẹp có thể giải cứu cả thế gian này. Linh tin thế.

Tình yêu nào có được quyền năng ấy? Tình yêu của Eva/Adam.

Đó là một tình yêu sơ nguyên thuộc về sơ tâm. Một tình yêu vẹn nguyên và thuần khiết thuộc về cái tâm như bông sen buổi sáng của con người. Nghĩa là tình yêu trong bản nguyên của nó. Bản nguyên không phải bản năng. Nó là tình yêu thuộc về cái phần người tinh khôi, nguyên khiết của mỗi cá thể. Nó hiện ra bằng những rung động tươi ròng, những khao khát trong lành mà con người có thể dâng tặng cho con người. Linh dồn toàn bộ tâm huyết để tôn vinh một tình yêu như thế. Càng kì vọng vào “Nhng cơn khát v v dn đường chúng ta, đnh giá chúng ta gia hin thc nhá nhem, giá tr b đánh tráo”, lại càng dị ứng gay gắt với những thứ tình yêu ngộ nhận, giả trang, rởm: “Lưỡi ca loài người phi được gt sch ngôn t ngy trang, ty ra nhng cái hôn rm, đc điếu văn cho nhng cuc tình ng nhn chết yu”. Tình yêu thuần khiết thì bao giờ cũng là một ái tiệc giữa vườn địa đàng. Mà tận hưởng và tận hiến đến từng phút giây sống trong nhau chính là thực đơn kì diệu của đại tiệc yêu này: “Vườn đa đàng mt Eva Linh / Cánh đng violette mênh mông / làm nên bao ái tic / Hoa tím min trinh miên quyến rũ / Tt c đi tic yêu /… Cho đôi ta sng nhiu ln trong mi ln / Cho hoan ca di vang vũ tr / cho màu yêu loang nhiu thế k /…môi rc tan thân nhit vã sáng / Li ti sao vòm vòm cây th tình”.

Tình yêu đích thực làm sao thiếu được tình tự ái ân. Bản thân ái ân là một vẻ đẹp sơ nguyên. Ý thức văn minh rởm ngự trị trong chúng ta đã biến nó thành cấm kị, che đậy nó bằng cái lá nho giả trang. Ngay từ buổi ban sơ của sự sống người, cảnh ái ân sơ nguyên đã được tổ tiên tạo tác trên thạp đồng Đào Thịnh[4] rồi. Ấy vậy mà đời sau, hễ nói về ái ân thì lập tức bị xét nét, báng bổ. Thói đời, những kẻ hô hào cấm kị nhất, báng bổ hăng nhất lại thường là kẻ khó cưỡng được sự tò mò về nó nhất. Thể hiện ái ân bằng nghệ thuật mãi mãi là một nhu cầu nhân bản. Chuyện cần xét nét chỉ là phẩm chất nghệ thuật và đẳng cấp văn hóa trong cách thể hiện ái ân và cách đọc về ái ân thôi. Xóa bỏ dần những cấm kị vô lối, dỡ bỏ dần cái lá nho vờ vịt kia chính là nỗ lực của văn minh thật. Hẳn nhiên, cũng là nỗ lực của thơ yêu mỗi thời. Vậy mà khi những tiếng thơ như thế vừa cất lên, tập quán liền rãy nảy, hùa vào chống trả.

Còn nhớ thế kỉ XVIII, những trang yêu trong Kiu, những phồn thực bóng gió của Xuân Hương từng bị qui kết là tà dâm. Nửa đầu thế kỉ XX, khi Xuân Diệu mới viết “Tháng giêng ngon như mt cp môi gn”, “Hãy sát đôi đu hãy k đôi ngc… Hãy khng khít nhng làn môn gn cht” thì đã bị la lối là vẩn đục. Hay, mới vài chục năm trước, Dư Thị Hoàn viết về cái lơ đãng không thể tha thứ: “Sau nhng phút giây êm đm trên ghế đá / Anh quên cài khuy áo ngc cho em”, thì đầu óc cấm kị đã vội vu lên là phàm tục…

Đến thời Vi Thùy Linh, tận thế kỉ XXI rồi, chuyện đã khá hơn đâu. Linh chả được thói đời miễn trừ một búa rìu nào. Cố nhiên, nhiễu loạn rồi cũng qua. Và, may thay, sau mỗi lần như thế, ý thức của con người về tình tự dường như lại nấn rộng một vòng, mỹ cảm về ái ân lại nâng lên một tầm. Giờ đây, ít ai còn nghi ngờ điều này: biểu tả tình tự ân ái bằng những thi ảnh ngỡ trần tục mà đầy thi vị là sở trường của Linh.

Nhng đường cong kha vào sóng ch

Em say nng mt ri, em say thêm na nhé

Mc cho búp hôn th phn thân người.

- Nhng con ch ny ht dưới da

Nhng con ch hòa máu em vào anh

Khao khát m đường cong hp

- Ngày anh đến mùa tình lên

Yên lng m nhng ngón tay chìa khóa

– Da tht dy tình làm rơi xiêm áo

Eo ch đi vut ve tht bão

– Vào lúc ht ht m hôi cha thm vào ngc m

Mt đt già cht chi n dn nhng lung hoa đng trinh

– Cài then tiếng khóc ca em bng đôi môi anh

Cài then em bng anh

Có nhà điêu khắc đã dành cả đời mình để tôn vinh nụ hôn của con người bằng hoa cương và cẩm thạch. Phải chăng ViLi cũng muốn làm một thi sĩ hoan ca ái ân tình tự của con người bằng thi ảnh và ngôn từ?

Khát khao một tình yêu sơ nguyên, hay sống với tình yêu trong bản nguyên của nó, những mong cứu chữa địa đàng, ViLi thực là người lãng mạn giữa thời buổi này. Tôi chắc những đầu óc hiện thực khó chia sẻ quan niệm và cách nhìn của Linh. Nhưng, từ vạn kiếp, tình yêu luôn là phần lãng mạn nhất của cõi người, làm sao có thể thiếu những cách tiếp cận lãng mạn được!

4. … thèm đế chế Yêu

Linh còn đẩy niềm lãng mạn đi xa hơn khi xem tình yêu là sự hoàn thiện bản thể. Mỗi con người vốn là một bản thể đầy mâu thuẫn, một bản thể thiếu khuyết: “Tôi là tôi / Mt bn th đy mâu thun”. Cái tôi ấy chỉ trở nên hoàn thiện bởi tình yêu và trong tình yêu: “Vào lúc nhng kim đng h nhp mt / Chúng ta tr thành mt bn th / và khi y / Em nhn ra / Anh là bn đ thế gii”. Tình tự không chỉ là thú yêu đương trong hoan lạc hiện sinh, không chỉ thỏa mãn những cơn khát tình, những nguồn dục lạc của thể xác. Bởi với Linh, “th xác ch là minh ha ca tinh thn”. Tình tự là lúc vượt thoát nỗi cô đơn bản thể, vượt thoát mặc cảm thiếu khuyết: “Nhng ngôi sao tung vn tinh th ướt sáng, bc Anh và em thành mt bn th. Tình tự là lúc sự sống trong vũ trụ này đang làm cuộc hóa sinh kì diệu của nó trong những bản thể người: “s vn đng âm – dương là bn cht thế gii”. Tình tự là lúc cảm nhận được sự bình yên mặt đất, bình yên của phận người: “Khi hôn mt Anh, mt trong mt Anh / Em nhìn thy s vn đng ca thế gii t nhng ht mm còn nm trong ngn nước / Khi nm nơi Anh / Em như trên hòn đo bình yên ca cuc đi mình / Khi áp vào tai Anh / Em nghe thy muôn tiếng sóng v v miên man như áp con c bin / Khi em hòa trong toàn vn Anh / Em đã vén được bc màn bí n v s sng / Và em biết / Vi tình yêu ca em /Anh có th ngng cao, tr thành chính mình”. Hoàn thiện mỗi bản thể bằng/trong một tình yêu lớn, phải chăng là cách duy nhất để hoàn thiện thế giới này?

Có người đã hình dung rằng thơ Việt từ đầu thế kỉ XX đến những năm đầu tiên của thế kỉ XXI là một hành trình dài dặc từ cái Tôi trở về với cái Tôi. Y như một vòng luẩn quẩn. Sự thực có giản đơn và đáng lo ngại như vậy không? Nhìn kĩ sẽ thấy đó là tiến trình đầy thăng trầm với bao khúc quanh từ cái tôi cá thể đến cái tôi bản thể. Đó là hai tầm mức, hai chiều kích của cái tôi cá nhân. Nếu cái tôi cá thể chủ yếu hiện lên qua tương quan với tập thể và sống trong mối bận tâm với những giá trị hẹp của cộng đồng nhỏ, thì cái tôi bản thể hiện ra trong đối lập với toàn thể và bận tâm với những giá trị phổ quát. Trên thi đàn, đây đó, không ít người rơi vào những bận lòng thỏn mỏn của cái tôi tiểu kỷ, chả đại diện được gì. Nhưng, ở những gương mặt nổi lên, ta vẫn thấy những nét thần thái của cái tôi bản thể. Sống với niềm băn khoăn ấy, Vi Thùy Linh là một trong những tiếng nói sốc của cái tôi bản thể đó.

Một nghệ sĩ thực thụ thì phải tạo ra được một thế giới nghệ thuật của riêng mình. Chưa làm được điều này, thì chưa thể có khuôn mặt nghệ thuật thực sự thuyết phục. Là một hiện tượng trẻ, nhưng Vi Thùy Linh đã sớm chín. Linh đã xây cất được một thế giới riêng trong thơ mình. Thế giới Linh là thế giới đang yêu. Một tình yêu luôn ở thì hiện tại. Thế giới ấy có thời gian là những mùa tình không dứt, không gian là cõi tình không biên giới, cả không/thời gian đều nhuốm một sắc tím không cùng của hoa Thùy Linh[5]? Vạn vật trong đó, từ cụm hoa đến bầu trời, từ rêu cỏ đến biển đảo, từ cơn gió đến ngọn sóng, từ thân cầu đến đỉnh tháp, từ khung cửa đến bức rèm, từ ly rượu đến ngọn nến, từ góc vườn đến góc giường, đến cả những thành phố lớn như Hà Nội, Roma, Paris… đều “đang yêu bng trái tim lãng mn”, đang tình tự bằng muôn vàn tế bào dậy men tình ái, lồng lộng nude và rộn rực dục tình: “đi l dài như mt cơn hôn”, “nhng núi vú ưỡn lên nóng bng, nhng núi vú non tơ sáng rc, nhng chóp vú khát yêu triu năm, t do hoan lc gia mùa tình không bao gi hết”, “v vào b muôn đt sóng kha trng tinh khôi”, “cây cu kết bng trăm thiếu n đùi ni nhp mĩ kiu lng lng nude sc sng”, “mây liếm cong trăng”, “nng mch nha trng trong ht như lúc em va tm”, “gió ào đến bế thc mùa thu đi”… Linh đã thổi những cơn yêu của mình vào mỗi sự vật ấy để vật nào cũng mang một mảnh hồn yêu. Nghĩa là Linh đã phổ vào tạo vật của mình một bầu khí quyển riêng: khí quyển yêu.

Thực ra, dựng thế giới nghệ thuật thành cõi yêu cũng chưa hẳn là điểm riêng của một thi sĩ nòi tình. Dấu ấn Linh phải chăng là quyền năng Eva trong cõi yêu ấy? Tìm hiểu thế giới nghệ thuật của một nhà thơ tình, tôi thấy một mô hình phổ biến. Ấy là một cõi giới với ba hệ thống hình tượng vừa song hành vừa đan xen chuyển hóa lẫn nhau là: Cái tôi – Người tình – Thế gii. Trong thơ Linh, mỗi hình tượng ấy có một diện mạo riêng. Tôi là nàng Eva Linh. Cái tôi ấy mang trong mình một tình yêu nồng nàn đến cuồng điên, đam mê đến tan nát. Điều thật lạ ở nàng Eva này là nỗi khát yêu càng vô giới hạn thì cơn khát làm mẹ càng vô bờ bến. Nàng thèm có con từ vị thành niên và rất ham phiêu diêu trong một viễn tưởng nhiều con. Với nàng, yêu là sống, cõi sống là cõi yêu, càng nhiều con càng nối dài sự sống trên cõi yêu này.

Người tình là Anh, một Anh luôn được viết hoa. Chàng được tình yêu sơ nguyên của Eva biến thành một Adam lí tưởng và linh thánh (vì thế, trong thơ ViLi không thể có một tiếng thơ nào than trách về chàng hay tranh chấp giới quyền với chàng).

Thế gii, cái cõi tình quanh họ ấy, đương nhiên, phải là vườn địa đàng thì hiện tại, một địa đàng đang cần được nâng cấp. Trong đó cuộc tương tranh giữa hoa địa đàng và rác văn minh đang ở hồi quyết liệt. Những cặn bã và rác rưởi của đô thị hóa, công nghiệp hóa, thị trường hóa… đang hòng robot hóa con người và hoang vu hóa vườn xưa. Nhưng, từ Eva và Adam bản nguyên khí lực của tình yêu lớn và đẹp không ngừng trào tuôn vào thế giới để cải hóa địa đàng thành đế chế yêu. Vì thế, không chỉ riêng khi yêu ở Roma, mà ở mọi chốn, quyền năng của tình yêu ấy luôn giúp Eva Linh đồng hóa thế giới này: Hôn nhau gia th đô La Mã/ Pisa nghiêng thêm / Anh ôm em bay gia bu tri Ý / Quyn nhau thành tháp nghiêng trên tháp / Váy bay tóc bay mt bay sóng sánh/ Chúng mình là ngôi sao bay, là tượng tình yêu đang th, in vào La Mã xanh/ Pisa th hai / Du Pisa cũ sp xung / Dáng nghiêng hôn nhau quên thi gian vn in lên nn tri Roma / Mt đế chế Yêu vĩnh cu

Biến thế giới thành đế chế Yêu vĩnh cửu, chẳng phải là cái đích lãng mạn nhất của văn minh sao? Và, thèm khát một đế chế Yêu như thế, chẳng phải là nghiệp yêu bạo liệt của ViLi sao?

5. Dt tm gai thành thơ

Tôi gọi ViLi là thi sĩ mắn chữ. Mắn là phúc lộc mà cũng là tội tình. Nên người đọc Linh luôn có hai cảm giác phản trái: cuốn hút và ức chế. Cuốn hút bởi một trữ lượng thi ca dồi dào, câu chữ sinh sôi, tình ý nườm nượp, thi ảnh ngồn ngộn. Còn ức chế bởi chính mặt trái của nó: tràn lan và ồn ào. Do thế, tôi chắc thơ Linh sẽ vậy thôi, một thứ dầu thô khó tinh lọc, một thứ quặng thô khó tinh luyện. Đến khi đọc những câu này: Ta dâng hiến cho thơ nhng năm tháng thanh xuân đp nht / Dt tm gai thơ dt si máu thành ch, tôi có phần nghi ngại mình. Mình đã thiếu kiên nhẫn chăng? đã thiếu công bằng trước những dòng thơ dệt từ “sợi máu” đó chăng?

Đọc ViLi cứ phải thả trôi theo sự “tràn trề”: Em vùi em vào anh, ny mm chưa tng có / o thut giác quan p la món trng mt tri / … Anh dt em đi mãi trong màu xanh ca ph, trên trin xanh ca sóng, gia không tn ca tri / Chúng mình đã đi qua bao thế k bt an, sao loài người yếu đui đến thế?! / Chúng mình đã đi qua ánh sáng bao nn văn minh huy hoàng mà nhân gian vn tìm gì mãi thế?! / Điu quan trng nht, bí mt h trng nht là biết yêu trong s sng tn cùng / Đi b qua vòm tri, anh nm bên em gia thi đi mt nhoài rn bóng nhng thế k

Tràn trề khiến thơ Linh có dáng dấp thơ văn xuôi. Tràn trề khiến mỗi bài thơ Linh như lồng ngực bé của thơ ngắn lại muốn chứa hơi thở phóng túng của trường ca. Đó âu cũng là một chiêu pháp định dạng một lối thơ. Thực ra, trước khi là một chiêu, nó là một điệu sống. Ai gần đều thấy Linh có một điệu sống ấn tượng: như dòng nước khoáng nóng không ngừng xối xả. Dòng sống mạnh xô đẩy cảm xúc tự trong hồn đã tuôn tràn ra thành sự xô đuổi câu chữ trên mặt giấy. Nó là một tạng chất. Chủ thể chỉ có thể sửa đổi mà không thể thay đổi. Thứ thơ như thế thường cậy vào chữ nhẫn ở người đọc. Nhẫn thì có cơ vượt qua lớp thô gai để nâng niu những sợi “máu chữ”. Còn không thể nhẫn thì đành “kính nhi viễn chi” do phát mệt với đám thô gai thừa thãi của ngôn từ.

Thơ Linh lúc này cứ xui tôi nhớ đến phim Long thành cm gi ca. Nếu phim của Đào Bá Sơn được xem là thơ trên màn bạc, thì có thể xem thơ Linh là phim trong ngôn từ. Ai quan tâm đến thơ đều thấy một thực tế: thơ hiện nay đang phải chấp nhận sự cạnh tranh gay gắt của các nghệ thuật khác. Nhiều đối thủ đáng gờm đang cướp đi bạn đọc của thơ. Để sống và cạnh tranh, thơ phải tự thay đổi bản thân. Hiện có hai xu hướng rõ rệt: một là, vay mượn ưu thế của các nghệ thuật khác để làm giàu; hai là, tự đào sâu vào mình để làm mới từ những ưu thế đặc thù. Nghe nhìn có lẽ là đối tượng được thơ tìm tới để vay mượn nhiều nhất. Sắp đặt, trình diễn đã sớm được thơ vời cũng theo tinh thần ấy.

Trên sân khấu, là người chịu chơi thơ, Linh khá máu mê trình diễn thơ. Nhưng trong văn bản, phim mới là nghệ thuật Linh am tường và khai thác nhiều để làm ra thơ mình. Có phải đến Phim đôi – Tình t chm, Linh mới học phim để làm thơ không? Không. Từ những tập đầu đã thấy xu hướng này rồi. Linh coi trọng những khuôn hình, coi trọng tốc độ chuyển cảnh, dàn cảnh, tin dùng động từ hơn tính từ để hình của mình không tĩnh kiểu tranh mà động kiểu phim. Linh thường show những cảnh toàn, cảnh cận, cảnh đặc tả khiến câu thơ, đoạn thơ như một chuỗi khuôn hình trên màn bạc. Có thể nói tư duy hình của Linh rất phim: “Đt ngt vào kch tính / N k s cưỡi bch mã phi nước đi xa l / Đến villa trng ph dây leo xanh / Núi rng rng gn xa / mây đp xanh kín bin / Nghênh chiến thách thc”… Ngay chiêu lặp, bề ngoài tưởng chỉ là phép điệp quen thuộc như “vòm vòm”, “ph ph”, “cánh cánh”, “nhà nhà”, “ngàn ngàn”, “cây cây”… nhưng, thực ra, chúng trở đi trở lại trong thơ Linh theo dụng ý phim, như cách lia máy, chạy máy để bao quát hoặc bám sát chuyển động của hình chủ: “Khi Anh ch em lướt Vespa ph ph”, “Tôi luyn tôi b b bão”, “Li ti sao vòm vòm cây th tình”… Hay cái cách chồng hình của phim đã nhập vào lối chồng chữ này: “Mình ôm ly Anh ôm mình” … đều cho thấy cách dụng hình, dụng chữ của Linh hấp thu từ điện ảnh thế nào.

Trước ViLi, không phải chưa có việc văn tìm đến phim. Nhưng tìm đến phim kiểu ViLi thì có lẽ chưa. Thành công nhiều hay ít, còn tùy đánh giá của lối đọc. Và kể cả cái nhìn ưu ái nhất cũng không thể làm lơ trước những dấu hiệu “phim đè thơ” đây đó trong các thi phẩm của Linh. Song, bảo rằng cây bút này không có cách tân gì về hình thức là chưa thật công bằng.

Ném mình vào cuộc thơ này, ViLi mang theo một tâm niệm: Đnh cao s sng là hp linh ngh thut và tình yêu. Tất nhiên, để có thể lên đỉnh ấy, không thể thiếu một hợp linh khác: nội lực và cật lực.

Nội lực một Eva bạo chữ, cật lực kiểu dệt tầm gai liệu có giúp được ViLi?

Chú thích

[1] Vi Thùy Linh có thơ in từ giữa những năm 90, sau lần lượt ra đời các tập: Khát (NXB Hội Nhà Văn,1999), Linh (NXB Thanh Niên, 2000), Đng t (NXB Văn nghệ, 2005), ViLi in love (NXB Văn Nghệ, 2008), Phim đôi – Tình t chm (NXB Thanh Niên, 2010). Thơ trích trong bài đều từ 5 tập thơ này.

[2] Người dt tm gai là hình tượng được nhiều người biết đến trong bài thơ cùng tên của Vi Thùy Linh.

[3] Có thể xem Hồ Xuân Hương là tiếng nói nữ quyền sớm và hết sức mạnh mẽ chống lại xã hội nam quyền, đòi quyền sống, quyền yêu cho người nữ. Tiếng nói ấy thể hiện tập trung trong niềm khao khát được chung tình, niềm phẫn uất với chế độ đa thê.

[4] Là di vật tiêu biểu của Văn hóa Đông Sơn, ngay trên nắp thạp, tổ tiên đã trang trí hình bốn cặp trai gái đang giao hoan.

[5] Trong thơ mình, Vi Thùy Linh sáng tạo ra một loài hoa của tình yêu màu tím ngát có tên là hoa Thùy Linh

Nguồn: lyluanvanhoc.com

 

THÔNG TIN HOẠT ĐỘNG

VĨNH BIỆT PHÓ GIÁO SƯ, NHÀ GIÁO ƯU TÚ NGUYỄN NGUYÊN TRỨ

VĨNH BIỆT PHÓ GIÁO SƯ, NHÀ GIÁO ƯU TÚ NGUYỄN NGUYÊN TRỨ Bùi Mạnh Nhị Biết Phó Giáo sư, Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Nguyên Trứ bị bệnh đã lâu ngày nhưng tin...

THÔNG BÁO TUYỂN DỤNG GIÁO VIÊN THỈNH GIẢNG BỘ MÔN TIẾNG VIỆT - KHỐI TRUNG HỌC (LẦN 2)

THÔNG BÁO TUYỂN DỤNG GIÁO VIÊN THỈNH GIẢNG BỘ MÔN TIẾNG VIỆT - KHỐI TRUNG HỌC (LẦN 2) Nhằm thực hiện  chương trình giảng  dạy  của năm học 2019,  nhà...
 

Học vụ

TÌNH HÌNH BẢO VỆ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CỦA SINH VIÊN HỆ CHÍNH QUY NĂM 2009 (2)

Từ ngày 18/5 đến 26/5/2009, Khoa Ngữ văn đã tổ chức hội đồng bảo vệ luận văn cho 28 sinh viên năm thứ tư. Các luận văn đều được đánh giá tốt, trong...

TÌNH HÌNH BẢO VỆ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CỦA SINH VIÊN HỆ CHÍNH QUY NĂM 2009 (1)

Từ ngày 18/5 đến 26/5/2009, Khoa Ngữ văn đã tổ chức hội đồng bảo vệ luận văn cho 28 sinh viên năm thứ tư. Các luận văn đều được đánh giá tốt, trong...
 

Đoàn TN - Hội SV

THÔNG BÁO VỀ HỘI THI NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN KHOA NGỮ VĂN TRƯỜNG ĐHSP TP. HCM NĂM HỌC 2008 - 2009

1/ Mục đích ý nghĩa: Trường ĐHSP là trường có nhiệm vụ hướng nghiệp dạy nghề rất rõ ràng. Đồng thời với việc được trang bị kiến thức về khoa...

 BÀI MỚI NHẤT